1. Quan điểm chỉ đạo: Giáo dục là quốc sách hàng đầu
Nghị quyết 71-NQ/TW khẳng định giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân; Nhà nước giữ vai trò định hướng, kiến tạo và bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Đồng thời, cần xây dựng xã hội học tập, khuyến khích tự học, học tập suốt đời và phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc.
Một điểm rất quan trọng là người học được xác định là trung tâm, nhà giáo là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục; giáo dục cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội.
Nghị quyết cũng yêu cầu chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại, phát triển hệ thống giáo dục mở, đa dạng, công bằng, liên thông và tạo điều kiện để mọi người được học tập suốt đời.
Hiểu một cách gần gũi: Muốn giáo dục phát triển thì không thể chỉ làm tốt công việc cũ. Mỗi cơ sở giáo dục phải đổi mới cách nghĩ, cách quản lý, cách dạy và cách học; lấy chất lượng và sự tiến bộ của người học làm thước đo.
2. Mục tiêu: Xây dựng nền giáo dục hiện đại, công bằng và chất lượng
Nghị quyết đặt ra các mục tiêu theo từng giai đoạn.
Đến năm 2030, hướng tới hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3–5 tuổi và giáo dục bắt buộc đến hết THCS; ít nhất 85% thanh niên trong độ tuổi hoàn thành THPT; phát triển mạnh năng lực ứng dụng công nghệ, AI trong giáo dục; tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt 24%.
Đến năm 2035, hướng tới phổ cập giáo dục THPT trên toàn quốc, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chỉ số giáo dục trong HDI.
Tầm nhìn đến năm 2045, xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng, chất lượng cao; mọi người dân có cơ hội học tập suốt đời và Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới về giáo dục.
Những mục tiêu lớn này cho thấy giáo dục không chỉ nhằm truyền đạt kiến thức mà phải tạo ra con người có phẩm chất, năng lực, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực số và khả năng thích ứng với sự thay đổi của xã hội.
3. Tám nhiệm vụ, giải pháp đột phá
Một là, nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng: Thống nhất nhận thức rằng đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai. Đổi mới tư duy quản lý, chuyển mạnh sang quản trị hiện đại, tăng cường vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng trong các cơ sở giáo dục.
Hai là, hoàn thiện thể chế, chính sách đặc thù cho giáo dục: Rà soát, hoàn thiện pháp luật và chính sách; tháo gỡ những điểm nghẽn; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực, tự chủ và trách nhiệm giải trình; tạo cơ chế để các cơ sở giáo dục chủ động đổi mới và phát triển.
Ba là, giáo dục toàn diện đức – trí – thể – mỹ: Không chỉ dạy kiến thức mà phải hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống, thể chất, năng lực và trách nhiệm xã hội. Tăng cường phối hợp giữa gia đình – nhà trường – xã hội; phòng, chống bạo lực, ma túy và các tệ nạn trong môi trường học đường.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo: Đây là một trong những điểm nhấn quan trọng của Nghị quyết. Giáo dục phải chủ động ứng dụng công nghệ số, dữ liệu và AI trong quản lý, dạy học và học tập; phát triển nền tảng học tập thông minh; nâng cao năng lực số cho giáo viên và người học.
Nói một cách dễ hiểu: người dạy phải biết công nghệ, người học phải có kỹ năng số và nhà trường phải biết khai thác công nghệ để nâng cao chất lượng giáo dục.
Năm là, phát triển đội ngũ nhà giáo và hiện đại hóa cơ sở vật chất: Bảo đảm đủ số lượng, nâng cao chất lượng và có chính sách phù hợp để thu hút, phát triển đội ngũ nhà giáo. Đồng thời, đầu tư cơ sở vật chất, phòng học, phòng thí nghiệm, không gian STEM/STEAM và các điều kiện phục vụ dạy học hiện đại.
Sáu là, cải cách và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp: Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa trực tiếp đối với các trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên. Nghị quyết định hướng tái cấu trúc mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp; phát triển mô hình trung học nghề; đổi mới chương trình đào tạo theo hướng chất lượng, hiện đại; tăng cường liên kết với doanh nghiệp và đào tạo tại nơi làm việc.
Đặc biệt, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực kỹ năng cao trong các ngành kỹ thuật, công nghệ; thu hút chuyên gia và người có tay nghề cao tham gia đào tạo.
Bảy là, hiện đại hóa giáo dục đại học, phát triển nhân lực trình độ cao: Đổi mới hệ thống giáo dục đại học theo hướng chất lượng, hiệu quả và hội nhập; gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và nhu cầu phát triển đất nước; tăng cường liên kết giữa Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp.
Tám là, mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế: Tăng cường hợp tác với các cơ sở giáo dục có uy tín; tiếp thu những chuẩn mực, kinh nghiệm tiên tiến của thế giới; thúc đẩy hợp tác đào tạo, nghiên cứu và giáo dục số, đồng thời giữ gìn bản sắc văn hóa và bảo đảm an ninh văn hóa.
(Nguồn: BAOCHINHPHU.VN)
4. Tổ chức thực hiện: Nghị quyết phải đi vào từng công việc
Điều quan trọng nhất sau khi học tập Nghị quyết là hành động.
Đối với Trung tâm GDNN–GDTX huyện Cần Giờ, việc thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW cần được cụ thể hóa thành những nhiệm vụ rõ người, rõ việc, rõ kết quả; gắn với kế hoạch năm học, kế hoạch đào tạo nghề, chuyển đổi số và nhiệm vụ chuyên môn của từng bộ phận.
Đó có thể là đổi mới một phương pháp dạy học; sử dụng hiệu quả một công cụ số; ứng dụng AI đúng cách; xây dựng một học liệu số; nâng cao một kỹ năng nghề; hỗ trợ thêm một người học; cải tiến một quy trình quản lý; hoặc chủ động học thêm một kỹ năng mới.
Từ những việc nhỏ nhưng thiết thực đó sẽ tạo nên sự thay đổi lớn trong hoạt động của Trung tâm.
Nghị quyết số 71-NQ/TW mở ra định hướng lớn cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới: lấy người học làm trung tâm, lấy chất lượng làm trọng tâm, lấy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực, lấy đội ngũ nhà giáo làm nhân tố then chốt và lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo.
Đối với Trung tâm GDNN–GDTX huyện Cần Giờ, quán triệt Nghị quyết phải gắn với hành động cụ thể, thiết thực và phù hợp với điều kiện địa phương. Mỗi cán bộ, viên chức, người lao động và người học cùng thay đổi một chút trong cách nghĩ, cách làm sẽ góp phần tạo đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của người dân khu vực Cần Giờ.